Theo khoản 2 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về mức phạt đối với hành vi đánh bạc trái phép như sau:
- Phạt tiền từ 1 - 2 triệu đồng đối với một trong những hành vi sau đây:
Bên cạnh đó, theo Điều 321 Bộ luật Hình sự 2015, số 100/2015/QH13 được sửa đổi bổ sung bởi khoản 120 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 quy định về tội đánh bạc như sau:
- Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5 - 50 triệu đồng hoặc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20 - 100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
- Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 - 50 triệu đồng.
Như vậy, căn cứ vào các quy định nêu trên, người chỉ đứng/ngồi xem đánh bạc mà không tham gia đánh bạc thì sẽ không bị xử lý. Tuy nhiên, trong trường hợp bị cơ quan công an bắt giữ, người xem đánh bạc phải chứng minh được việc mình chỉ xem mà không tham gia chơi.
Trên thực tế, việc chứng minh này không hề dễ dàng. Vì thế, tuyệt đối không nên đến các sới bạc, dù chỉ là để ngồi xem vì tò mò hay thích thú.

Ngồi xem đánh bạc không bị xử lý, nhưng không dễ chứng minh (Ảnh minh họa)
Theo quy định của Bộ luật Hình sự, một trong các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người phạm tội là tịch thu tang vật, tiền liên quan đến tội phạm.
Với tội đánh bạc, người tham gia đánh bạc đều bị tịch thu tiền hoặc hiện vật dùng để đánh bạc được thu giữ trực tiếp tại chiếu bạc; Tiền hoặc hiện vật thu giữ trong người con bạc hoặc tiền, hiện vật thu giữ ở những nơi khác có đủ căn cứ đã được hoặc sẽ được dùng để đánh bạc.
Trong trường hợp ngồi xem đánh bạc, khi có công an ập vào vây bắt, người xem đánh bạc cũng có thể bị tịch thu tiền, tang vật có trong người do có nghi ngờ đây là tang vật đánh bạc. Do đó, người ngồi xem đánh bạc cần phải chứng minh mình không tham gia đánh bạc thì mới được hoàn trả lại tài sản.
Theo khoản 4 Điều 36 Nghị định 282/2025/NĐ-CP quy định về mức phạt đối với hành vi tổ chức đánh bạc như sau:
- Phạt tiền từ 5 - 10 triệu đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:
Như vậy, nếu chủ trọ biết được có người thuê nhà đánh bạc trái phép nhưng không khai báo với cơ quan Công an thì được coi là che dấu việc đánh bạc trái phép và sẽ bị phạt hành chính với mức phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng.
Ngoài ra, theo Điều 322 Bộ luật Hình sự 2015, số 100/2015/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Khoản 121 Điều 1 Luật số 12/2017/QH14 quy định về tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc như sau:
- Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50 - 300 triệu đồng hoặc phạt tù từ 01 - 05 năm:
- Tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng 01 lần trị giá 20 triệu đồng trở lên
- Có tổ chức nơi cầm cố tài sản cho người tham gia đánh bạc; có lắp đặt trang thiết bị phục vụ cho việc đánh bạc hoặc phân công người canh gác, người phục vụ khi đánh bạc; sắp đặt lối thoát khi bị vây bắt, sử dụng phương tiện để trợ giúp cho việc đánh bạc
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc hành vi quy định tại Điều 321 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 321 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 - 10 năm:
- Hình phạt bổ sung của tội này là phạt tiền từ 20 - 100 triệu đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Như vậy, trường hợp cho thuê nhà để tổ chức đánh bạc, chủ nhà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc.
Trên đây là quy định về: Ngồi xem đánh bạc có bị xử lý?...